Xuất khẩu rau quả đã tiến những bước dài, nhưng để chinh phục giấc mơ 10 tỷ USD và nhiều hơn nữa, có lẽ cần bắt tay xây dựng từ gốc.
Chỉ trong vài năm, kim ngạch ngành rau quả nước ta đã tăng vọt từ hơn 3,3 tỷ USD (2022) vọt lên 8,5 tỷ USD (2025). Rau quả liên tục là điểm sáng của nông nghiệp Việt Nam trên bản đồ thương mại toàn cầu.
Tuy nhiên, phía sau con số ấn tượng đó là một thực tế ít được nhắc đến. Tăng trưởng hiện phụ thuộc vào một số mặt hàng chủ lực và một vài thị trường lớn. Điều này khiến ngành rau quả đứng trước câu hỏi quan trọng: Làm thế nào để duy trì đà tăng trưởng trong dài hạn?
Câu trả lời đang dần được Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật định hình từ một hướng đi, đó là phát triển từ vùng nguyên liệu và phương thức sản xuất. Trong đó sản xuất xanh và chuẩn hóa chuỗi giá trị được xem là những trụ cột chính.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương - Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật. Ảnh: Tùng Đinh.
Sản xuất xanh - nền tảng mới của vùng nguyên liệu
“10 tỷ USD không chỉ là đích đến mà đó là một hành trình”, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Thị Thu Hương nhìn nhận và chỉ ra trong nhiều năm, sản xuất nông nghiệp chủ yếu tập trung vào tăng năng suất và mở rộng diện tích. Nhưng khi nông sản bước ra thị trường quốc tế, những tiêu chuẩn mới xuất hiện ngày càng nhiều, nhất là phát thải thấp, truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và sản xuất bền vững. Nếu không làm một cách căn cơ, nông sản có thể gặp khó ngay trên chính thị trường nội địa, còn nông dân dễ rơi vào vòng luẩn quẩn của cái bẫy “thu nhập trung bình”.
Đây chính là lý do ngành trồng trọt đang thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh. Một trong những giải pháp là triển khai Đề án sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025 - 2035 nhằm đưa các mô hình canh tác phát thải thấp vào sản xuất quy mô lớn.
Tính đến nay, gần 60 mô hình đã được các địa phương đăng ký trên nhiều nông sản chủ lực, bao gồm rau quả. Cục sẽ tổng hợp, từ đó ban hành quy trình chuẩn áp dụng cho từng tiểu vùng khí hậu. Mục tiêu là giảm 15% lượng phát thải đến năm 2035 dựa trên giảm giống, phân bón, lượng nước tưới cũng như các yếu tố đầu vào khác.
Đề án là cú hích mới nhất về chính sách dựa trên cơ sở sẵn có là sự thay đổi phương thức canh tác của người dân. Các mô hình quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) tiếp tục được mở rộng, khuyến khích sử dụng thiên địch, biện pháp sinh học và quản lý hệ sinh thái đồng ruộng thay cho việc phụ thuộc hoàn toàn vào thuốc hóa học.

Niềm vui thu hoạch vải thiều tại xã Thanh Hà, TP Hải Phòng. Ảnh: Diệu Linh.
Hàng nghìn lớp tập huấn đã được tổ chức để hướng dẫn nông dân sử dụng vật tư nông nghiệp an toàn và hiệu quả. Sự thay đổi này không những giảm phát thải mà còn giúp nâng cao chất lượng nông sản và đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng khắt khe của thị trường nhập khẩu.
"Ở góc độ rộng hơn, sản xuất xanh cũng gắn liền với việc tổ chức lại sản xuất”, bà Nguyễn Thị Thu Hương nói và nhấn mạnh ngành trồng trọt đang thúc đẩy phát triển các vùng sản xuất tập trung, quy mô lớn gắn với liên kết chuỗi giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp. Việc áp dụng cơ giới hóa, công nghệ mới và chuyển đổi số trong sản xuất cũng được đặt lên hàng đầu.
Những thay đổi này nhằm tạo ra vùng nguyên liệu ổn định - yếu tố được xem là nền tảng cho xuất khẩu bền vững. Thực tế đã cho thấy nếu vùng nguyên liệu không đạt chuẩn, mọi nỗ lực mở rộng thị trường đều khó duy trì lâu dài.
Chuẩn hóa chuỗi giá trị để tăng tốc xuất khẩu
Nếu sản xuất xanh là nền tảng thì chuẩn hóa chuỗi giá trị là chìa khóa để mở rộng xuất khẩu. Trong thương mại nông sản hiện tại, vùng trồng không đơn thuần là nơi sản xuất mà phải đáp ứng hàng loạt tiêu chuẩn về kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc.

Hiện cả nước đã có 9.357 mã số vùng trồng và 1.381 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu rau quả. Ảnh: Ngọc Khanh.
Tại Việt Nam, hệ thống mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói đang đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Đến nay, cả nước đã có 9.357 mã số vùng trồng và 1.381 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu rau quả sang nhiều thị trường trên thế giới. Những dữ liệu này cho phép nông sản Việt tiếp cận những thị trường khó tính như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Australia hay Hàn Quốc.
Tuy nhiên, việc duy trì tiêu chuẩn vùng trồng không hề đơn giản. Xu hướng chung của các thị trường là ngày càng nâng cao quy định kỹ thuật. Trong một số trường hợp, các mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói thậm chí bị thu hồi do vi phạm quy định của nước nhập khẩu.
“Điều này cho thấy xuất khẩu nông sản giờ phải đi đôi với ý thức tuân thủ tiêu chuẩn của nước nhập khẩu”, bà Nguyễn Thị Thu Hương nhấn mạnh và coi việc chuẩn hóa vùng trồng quan trọng không kém nỗ lực mở rộng thị trường cho nhiều loại trái cây vốn đang được đẩy mạnh đàm phán để đưa thêm sản phẩm vào các thị trường lớn. Chẳng hạn bưởi tươi đang tiến gần đến thị trường Australia, chanh leo được kỳ vọng sớm vào thị trường Hoa Kỳ, trong khi nhiều loại trái cây khác đang được đàm phán với Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand.
Mở cửa thị trường là bước quan trọng, nhưng không phải là yếu tố duy nhất để hiện thực hóa mục tiêu 10 tỷ USD xuất khẩu rau quả. Dù xuất khẩu lớn, nhiều sản phẩm rau quả của Việt Nam vẫn chủ yếu đi dưới dạng nguyên liệu tươi hoặc chế biến đơn giản, chưa xây dựng được thương hiệu mạnh hoặc đang có rất ít nhà xuất khẩu xây dựng được thương hiệu riêng trên thị trường quốc tế. Vì thế giá trị gia tăng chưa tương xứng với tiềm năng.

Dứa được kỳ vọng sớm gia nhập nhóm trái cây xuất khẩu tỷ đô. Ảnh: Thanh Nga.
Việc xây dựng thương hiệu sản phẩm gắn với vùng trồng, tiêu chuẩn chất lượng được đặt ra trong bối cảnh những sản phẩm có thương hiệu rõ ràng thường có giá trị cao hơn và ít phụ thuộc vào biến động thị trường. Đây cũng là bước tiếp theo trong quá trình nâng cấp chuỗi giá trị của ngành rau quả Việt Nam.
Sự bùng nổ của xuất khẩu rau quả những năm gần đây cho thấy tiềm năng lớn của ngành hàng này. Nhưng để duy trì đà tăng trưởng, ngành rau quả không thể chỉ dựa vào một vài mặt hàng hay một số thị trường nhất định mà cần một cách làm bền vững hơn. Đó là bắt đầu từ vùng nguyên liệu với mô hình sản xuất xanh, giảm phát thải và nâng cao chất lượng nông sản. Tiếp đó là chuẩn hóa chuỗi giá trị từ vùng trồng đến đóng gói và xuất khẩu. Và cuối cùng là xây dựng thương hiệu để nâng cao giá trị sản phẩm.
Khi 3 yếu tố này kết nối với nhau, ngành rau quả không chỉ duy trì được tốc độ tăng trưởng hiện nay mà còn có thể hướng tới những mục tiêu lớn hơn trong tương lai.
Sầu riêng, thanh long và dừa là những mặt hàng trái cây chủ lực của Việt Nam đã hoặc đang trong nhóm xuất khẩu tỷ đô. Kỳ vọng thời gian tới, chuối và dứa sẽ gia nhập nhóm này nhờ vùng nguyên liệu ổn định và thị trường tiêu thụ được dự báo ngày càng tăng.
Bảo Thắng