Không còn là vụ sản xuất phụ, vụ đông đang trở thành vụ chủ lực của thành phố Hải Phòng với tổng giá trị sản xuất ước đạt trên 5.000 tỷ đồng.
Bức tranh về nền nông nghiệp đồ sộ, quy mô lớn với màu xanh là gam chủ lực đang được thành phố Cảng hoàn thiện đường hướng chiến lược. Bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường thành phố Hải Phòng chia sẻ những đau đáu về cây vụ đông nhân dịp đầu xuân Bính Ngọ 2026.
Vựa rau củ lớn nhất miền Bắc
Đức Chính là một trong nhiều xã thuần nông của tỉnh Hải Dương (cũ). Thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, Đức Chính cùng với Cẩm Vũ, Cẩm Văn hợp nhất thành xã mới mang tên xã Tuệ Tĩnh. Thế nhưng người ta nhớ tới cái tên Đức Chính bởi đó là thương hiệu vùng thâm canh cà rốt lớn nhất nước. Những nỗ lực không ngừng nghỉ của người dân và chính quyền địa phương qua nhiều năm đã ghim vào bản đồ ngành trồng trọt cái tên vùng chuyên canh cây vụ đông điển hình tới mẫu mực.

Đức Chính là vựa cà rốt lớn nhất miền Bắc. Ảnh: Tùng Đinh.
Đó là thành quả đầy tự hào của ngành nông nghiệp vùng đất Thành Đông, và giờ đây đang tiếp tục có thêm những dư địa, không gian, lợi thế mới khi sáp nhập với thành phố Cảng. Với không gian hướng biển, rau củ quả thuận lợi hơn về logistic, xuất khẩu... Đó cũng là những cơ sở đầy thuyết phục để Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp Môi trường Hải Phòng Lương Thị Kiểm tự tin vào đường hướng cho cây vụ đông của địa phương mình.
Theo bà Kiểm, chiến lược phát triển cây vụ đông khởi phát gần chục năm qua nhưng phải tới đầu những năm 2020 mới thực sự hình thành những cánh đồng thâm canh, chuyên canh như hiện nay. Khi tỉnh Hải Dương (cũ) cụ thể hóa bằng hành động tại Kế hoạch số 4268 về triển khai thực hiện chiến lược phát triển trồng trọt đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, chính sách, chiến lược dài hạn cho cây vụ đông, nông dân mới thực sự yên tâm sản xuất, yên tâm đầu từ cho cây rau màu.
Theo Kế hoạch, đến năm 2050, ngành trồng trọt sẽ trở thành ngành kinh tế kỹ thuật hiện đại ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, đảm bảo an toàn thực phẩm và thân thiện với môi trường. Sản xuất trồng trọt theo hướng an toàn (VietGAP, GlobalGAP), hữu cơ, tuần hoàn, đa giá trị, phát thải thấp, phù hợp với chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực, góp phần sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Sản xuất cây vụ đông của Hải Phòng ngày càng đi vào chiều sâu, theo các tiêu chuẩn chất lượng. Ảnh: Tùng Đinh.
Sự thay đổi này cũng đồng thời thay đổi trong cả tư duy: chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp, phát triển sản xuất trồng trọt tập trung hàng hóa theo chuỗi giá trị, định hướng thị trường trên cơ sở liên kết chặt chẽ giữa các đối tác, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, tái cơ cấu ngành nông nghiệp, khuyến khích tích tụ tập trung đất đai, chuyển đổi linh hoạt cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa để nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Đối với rau màu các loại, đến năm 2030 duy trì diện tích khoảng 41.500ha/năm (trong đó diện tích cây vụ đông ở mức 21.000ha/năm, diện tích rau màu vụ xuân 10.000ha và vụ hè thu 9.500ha), tổng sản lượng rau đạt trên 900.000 tấn/năm. Đồng thời nâng giá trị sản xuất cây vụ đông, tiếp tục duy trì và mở rộng các vùng sản xuất tập trung cây rau màu truyền thống, có thị trường tiêu thụ ổn định, giá trị kinh tế cao (hành tỏi, cà rốt, bắp cải, su hào, súp lơ, dưa hấu, cà rốt tại Kinh Môn, Gia Lộc, Nam Sách, Kim Thành, Thanh Miện và Chí Linh)...
Đó là những hoạch định. Thế nhưng quá trình thực hiện, tỉnh Hải Dương (cũ) và thành phố Hải Phòng hiện nay, cây vụ đông đã mang lại giá trị, hiệu quả hơn cả kỳ vọng.

Ứng dụng công nghệ, sản xuất hữu cơ với các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP đang được Hải Phòng áp dụng để phát triển những vùng thâm canh rau củ quả. Ảnh: Tùng Đinh.
Theo bà Kiểm, Hải Phòng có điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng thuận lợi cho phát triển sản xuất cây vụ đông. Toàn Thành phố hiện có trên 173.000ha đất nông nghiệp, trong đó 88.000ha là đất trồng trọt, chiếm hơn một nửa diện tích tự nhiên. Đây là lợi thế rất lớn để Hải Phòng phát triển sản xuất rau màu quanh năm, đặc biệt là cây vụ đông - vụ sản xuất thứ ba trong năm, mang lại giá trị kinh tế cao nhất trong cơ cấu cây trồng của địa phương.
Hàng năm, diện tích gieo trồng cây vụ đông của Thành phố đạt khoảng 29.000ha, trong đó rau các loại chiếm 22.000ha, sản lượng trung bình 625.000 tấn/năm; ngô 1.900ha, sản lượng 12.500 tấn; các loại cây màu khác 5.100ha, sản lượng 60.000 tấn.
Dự kiến vụ đông 2025 - 2026, toàn Thành phố gieo trồng 29.200ha, trong đó rau các loại 22.200ha, sản lượng 650.000 tấn, khẳng định vị thế “vựa rau của miền Bắc” - trung tâm cung ứng rau củ chất lượng cao cho vùng Đồng bằng sông Hồng và khu vực duyên hải Bắc Bộ.
Tổng giá trị sản xuất cây vụ đông toàn Thành phố ước đạt trên 5.000 tỷ đồng, chiếm hơn 20% giá trị ngành trồng trọt và khoảng 12% giá trị toàn ngành nông nghiệp. Đáng chú ý, 70% sản lượng rau vụ đông được tiêu thụ ngoài Thành phố, phần lớn cung cấp cho các đô thị lớn và xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia và các nước Trung Đông, trong khi 30% phục vụ tiêu dùng tại chỗ.

Cà rốt là một trong những cây chủ lực trong cơ cấu cây trồng vụ đông của Hải Phòng. Ảnh: Tùng Đinh.
“Những con số ấy thể hiện rõ tầm quan trọng của cây vụ đông trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nâng cao thu nhập, góp phần hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới nâng cao tại các địa phương”, bà Kiểm nhấn mạnh.
Những trụ đỡ cho cây vụ đông
Theo bà Lương Thị Kiểm, cây vụ đông của Hải Phòng có nhiều cơ sở để phát triển bền vững. Thành phố xác định cây vụ đông là cây làm giàu của nông dân, khác với tư duy vụ đông chỉ là vụ tăng vụ và là giá trị tăng thêm. Tại nhiều địa phương, cây vụ đông chỉ cho giá trị trên dưới 100 triệu đồng/ha, thế nhưng vụ đông ở Hải Phòng đạt giá trị trung bình lên tới hơn 230 triệu đồng/ha. Đặc biệt, các xã phía tây Thành phố là những vùng chuyên canh đặc thù như vùng hành tỏi, cà rốt, xu hào, bắt cải…, giá trị sản xuất lên tới 300 - 400 triệu đồng/ha.
Giai đoạn tới, khi những vùng nông nghiệp công nghệ cao bước vào thời kỳ ổn định (như vùng chuyên canh dưa, rau màu trồng trong nhà màng, nhà lưới…) sẽ cho thu nhập lên tới 500 triệu đồng, có những vùng có thể đạt giá trị 1 tỷ đồng/ha.

Bà Lương Thị Kiểm (thứ 5 từ trái sang) giới thiệu mô hình trồng cà rốt ở Đức Chính. Ảnh: Tùng Đinh.
Bà Kiểm nhấn mạnh: “Hải Phòng có tiềm năng rất lớn sản xuất cây vụ đông. Chúng tôi cũng nhìn trước thực tế, đó là đất canh tác sẽ ngày càng thu hẹp do phải chuyển đổi sang đất công nghiệp - dịch vụ. Quỹ đất giảm nhưng cây vụ đông vẫn có thể tăng diện tích canh tác trên đất hai lúa. Việc chuyển đổi này giúp nâng cao giá trị sử dụng đất. Luân canh từ đất lúa sang trồng rau màu đất được cải tạo tốt hơn, từ đó lúa cũng tốt hơn ở vụ sau và lại được thêm một vụ đông nữa.
Vụ đông ở Hải Phòng còn thuận lợi hơn các địa phương khác, đó là đã xây dựng được các chuỗi liên kết. Nông dân không còn đơn độc trên cánh đồng bởi khi bắt đầu vụ mới đã có đơn vị tới tận bờ nhận bao tiêu toàn bộ sản phẩm. Đơn cử như vùng cà rốt Đức Chính, cánh đồng cà rốt bắt đầu lên xanh, chưa ra củ đã có người đến đặt mua trọn gói. Điều này giúp nông dân tự tin, yên tâm sản xuất, không phải lo đầu ra. Tư thương ký hợp đồng thu mua từ 9 - 10 triệu đồng/sào cà rốt, nông dân chỉ việc chăm sóc theo yêu cầu của bên thu mua. Đến cuối vụ sẽ có người về tận ruộng thu hoạch mang đi.
Nói như vậy để thấy được rằng, sự khép kín trong các khâu trồng trọt - sản xuất - thu mua - tiêu thụ đã thành chuỗi và đang tiếp tục phát triển. Doanh nghiệp thu mua nông sản sẽ dẫn dắt các khâu sản xuất, họ đặt hàng từ các xưởng sơ chế đóng gói, bên sơ chế tiếp tục đặt hàng những người mua thu gom và những người đứng ra thu gom là những người tự tìm đến với nông dân từ khi mùa vụ bắt đầu. Có thị trường, có chuỗi liên kết, giờ đây làm tốt phần sản xuất thì vụ đông sẽ cứ thế mà phát triển. Tất cả đã thành một đường đi".

Vùng chuyên canh cây cà rốt vụ đông mẫu mực ở Hải Phòng. Ảnh: Tùng Đinh.
Hải Phòng cũng đã hình thành hệ thống cơ sở sơ chế, chế biến, nhiều vùng đã thực hiện chế biến sâu để xuất khẩu rau củ quả truyền thống. Theo thời gian, theo sự phát triển, những cơ sở này tiếp tục mở rộng, phát triển quy mô và không ngừng đổi mới công nghệ chế biến theo chiều sâu, ngày càng chuyên nghiệp, chuyên môn hóa. Không chỉ tiêu thụ nông sản của Hải Phòng, những cơ sở chế biến này còn tiêu thụ nông sản cho các tỉnh miền núi phía Bắc và nhiều tỉnh thành phía Nam. Dưa, bầu, bí… từ khắp nơi ùn ùn về Hải Phòng, được chế biến, đóng gói, sau đó xuất khẩu.
Hạ tầng logistic là một trong những thế mạnh, lợi thế để phát triển cây vụ đông của Hải Phòng. Hiện nay, Thành phố đã được ủy quyền rất nhiều về các thủ tục cấp phép xuất nhập khẩu nông sản. Điều này giúp địa phương chủ động hơn, từ đó việc tiêu thụ nông sản, giao lưu hàng hóa ngày càng thuận lợi.
Trước đây, khi chưa hợp nhất với Hải Phòng, sản xuất nông nghiệp của Hải Dương vẫn còn nhiều nỗi lo, nhất là về các thủ tục cấp phép tiêu thụ nông sản. Khi đó Hải Dương còn đặt Hải Phòng là thị trường tiêu thụ nông sản để hướng tới. Giờ đây thành một nhà, thị trường tiêu thụ nông sản nội địa ngày càng mở rộng. Tốc độ tăng dân số cơ học cũng giúp vùng rau yên tâm hơn về đầu ra. Hiện nay thị trường trong tỉnh đã bao tiêu được tới 40 - 50% sản lượng rau màu trồng ra, còn lại là tiêu thụ tại các địa phương khác và xuất khẩu. Đây là những yếu tố để kỳ vọng cây vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, giúp người dân làm giàu chứ không còn là vụ mang lại giá trị tăng thêm.

Cánh đồng cà rốt vừa gieo trồng. Ảnh: Tùng Đinh.
Thành phố đã ban hành hàng loạt các cơ chế chính sách để thúc đẩy sản xuất cây vụ đông. Những điểm nghẽn nằm ngoài sản xuất như việc kiểm soát để nâng cao chất lượng sản phẩm Thành phố đã có phương án cũng như có cơ chế chính sách hỗ trợ để cấp giấy chứng nhận an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGap, có chính sách hỗ trợ để sản xuất nông sản hướng sang thị trường Halal…, đó là những chính sách mang tính mở đường cho rau củ quả.
Hay như các chính sách hỗ trợ để thúc đẩy cơ giới hóa khi lực lượng lao động nông nghiệp ngày càng giảm, thiếu người thì đưa máy móc vào, đó cũng là xu thế tất yếu của nền nông nghiệp hiện đại. Nút thắt tiếp theo trong quá trình sản xuất là dây chuyền chế biến nông sản, hệ thống bảo quản… cũng đang từng bước được Nhà nước đầu tư, tiếp sức cho nông dân.
Ngoài ra còn các chính sách ưu đãi khác cho các doanh nghiệp nông nghiệp đầu tư quy mô lớn. Thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường tham mưu để ban hành các cơ chế chính sách, Sở đã nghiên cứu rất kỹ để tìm ra những nút thắt của những chính sách cũ. Quan trọng nhất là cần tìm hiểu những nút thắt của chính nông dân xem họ đang vướng ở đâu và cần hỗ trợ những gì để Nhà nước tiếp sức.
"Nghị quyết 51 mà Thành phố vừa ban hành với 9 chính sách phát triển nông nghiệp là những chính sách rất ấn tượng. Chúng tôi kỳ vọng rất nhiều từ những chính sách này để giúp nền nông nghiệp địa phương cất cánh, có những đột phá trong giai đoạn tới", bà Kiểm nói.

Bức tranh cây vụ đông của Hải Phòng. Ảnh: Tùng Đinh.
Nhìn thẳng vào những hạn chế, khó khăn, thách thức đang đặt ra đối với sản xuất cây vụ đông hiện nay, bà Kiểm thẳng thắn: “Trước hết là sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, chưa hình thành chuỗi giá trị khép kín, việc liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp còn hạn chế. Công tác cấp mã số vùng trồng, ghi nhật ký điện tử và truy xuất nguồn gốc chưa được triển khai đồng bộ.
Hạ tầng bảo quản, chế biến sau thu hoạch còn thiếu và yếu, dẫn đến tổn thất lớn và giảm giá trị sản phẩm. Cùng với đó là tác động rõ nét của biến đổi khí hậu, thời tiết thất thường, xâm nhập mặn, thiếu nước ngọt cục bộ. Lực lượng lao động trẻ ngày càng ít tham gia vào nông nghiệp. Vốn đầu tư hạn chế, công nghệ bảo quản hiện đại chưa đồng bộ… Tất cả đang ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả sản xuất cây vụ đông".
Để phát triển cây vụ đông bền vững, theo bà Kiểm, cần quy hoạch và tổ chức vùng sản xuất cây vụ đông tập trung quy mô lớn, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ và thị trường xuất khẩu. Tập trung phát triển các cây trồng chủ lực có giá trị kinh tế cao như cà rốt, hành, súp lơ, khoai tây. Phát triển liên kết chuỗi giá trị, tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp – hợp tác xã – nông dân, thúc đẩy hình thành các mô hình sản xuất theo hợp đồng bao tiêu ổn định, giảm rủi ro “được mùa mất giá”. Đầu tư hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đặc biệt là hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng, cơ sở bảo quản, kho lạnh, nhà sơ chế, đóng gói. Đồng thời hỗ trợ cơ giới hóa đồng ruộng để giảm chi phí sản xuất và tổn thất sau thu hoạch.
Bên cạnh đó là xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại và mở rộng thị trường tiêu thụ, từng bước khẳng định thương hiệu “Rau vụ Đông Hải Phòng” trên bản đồ nông sản Việt Nam, hướng tới xuất khẩu bền vững.

Vùng chuyên canh hành tỏi mang lại giá trị 300 - 400 triệu đồng/ha. Ảnh: Tùng Đinh.
Hải Phòng đã hình thành nhiều vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn gắn với thị trường tiêu thụ ổn định và định hướng xuất khẩu. Tiêu biểu như vùng hành - tỏi hơn 6.500ha, sản lượng 120.000 - 130.000 tấn/năm; vùng cà rốt 1.200ha, sản lượng 60.000 - 65.000 tấn, trong đó 80% xuất khẩu, đạt doanh thu bình quân 300 - 350 triệu đồng/ha/năm. Vùng bắp cải, su hào, súp lơ hơn 4.700ha, sản lượng 180.000 - 185.000 tấn, tiêu thụ mạnh tại Hà Nội, TP.HCM, một phần xuất khẩu sang Malaysia, Campuchia, Hàn Quốc. Các vùng cà chua, khoai tây, củ đậu với tổng diện tích trên 2.000ha, cho giá trị bình quân 200 - 250 triệu đồng/ha, có nơi đạt tới 300 triệu đồng/ha.
Kiên Trung