Dịch hại cây sắn: Giống kháng bệnh là mắt xích chiến lược

Trước áp lực dịch hại, ngành sắn cần chủ động nguồn giống kháng bệnh, coi đây là giải pháp then chốt bảo vệ sinh kế cho nông dân và giữ vững xuất khẩu tỷ đô.

Hệ lụy vòng xoáy thoái hóa giống

Theo TS Trương Vĩnh Hải, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, giống cây trồng đóng góp trực tiếp từ 15 - 20% vào năng suất. Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất hiện nay, vai trò của giống đã mở rộng hơn thế. Giống quyết định khả năng thích nghi, sức chống chịu trước thiên tai và chất lượng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến.

Tây Ninh không chỉ là vùng sản xuất sắn trọng điểm mà còn là 'trạm thử nghiệm' quy mô lớn để nhân rộng giống sắn mới ra cả nước. Ảnh: Trần Trung.

Tây Ninh không chỉ là vùng sản xuất sắn trọng điểm mà còn là “trạm thử nghiệm” quy mô lớn để nhân rộng giống sắn mới ra cả nước. Ảnh: Trần Trung.

Hiện nay, khoa học công nghệ đang thể hiện vai trò dẫn dắt rõ nét khi nhiều diện tích sắn cả nước đang sử dụng các giống có nguồn gốc từ Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam. Với vị thế là địa phương có diện tích và năng suất sắn thuộc nhóm cao nhất cả nước, Tây Ninh không chỉ là vùng sản xuất trọng điểm mà còn đóng vai trò là "trạm thử nghiệm" quy mô lớn để nhân rộng các giống sắn mới ra các địa phương khác.

Dù đạt được nhiều thành tựu, ngành sắn đang phải đối mặt với thách thức lớn trước tình trạng thoái hóa giống trên diện rộng. Quá trình thâm canh kéo dài, tác động khắc nghiệt của biến đổi khí hậu cùng việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật thiếu kiểm soát đã làm suy giảm nghiêm trọng phẩm chất giống.

Hệ quả là mầm bệnh tích tụ khiến sức chống chịu tự nhiên của cây sắn trở nên mong manh trước các dịch hại như khảm lá, thối củ hay chổi rồng. Sự sụt giảm chất lượng giống không chỉ là vấn đề trên đồng ruộng mà đang trực tiếp đe dọa vị thế "ngành hàng tỷ USD". Khi giống suy thoái, một vòng xoáy hệ lụy sẽ hình thành: năng suất bấp bênh, chất lượng tinh bột không ổn định, đẩy chi phí đầu tư tăng cao trong khi lợi thế cạnh tranh xuất khẩu bị bào mòn.

Nguy cơ dịch hại đang uy hiếp vùng nguyên liệu sắn. Ảnh: Trần Trung.

Nguy cơ dịch hại đang uy hiếp vùng nguyên liệu sắn. Ảnh: Trần Trung.

Tại Tây Ninh, áp lực từ dịch hại và thoái hóa giống sắn nếu không được hóa giải kịp thời sẽ dẫn đến nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu cho hệ thống nhà máy chế biến quy mô lớn. Quan trọng hơn, điều này tác động trực tiếp đến sinh kế bền vững của hàng nghìn hộ nông dân.

Vì vậy, việc tái cấu trúc công tác giống, chuyển từ tư duy "phòng trị" sang "quản trị hệ sinh thái" và ứng dụng các bộ giống đa kháng chính là lộ trình tất yếu. Đây là giải pháp then chốt để bảo vệ thành quả của ngành sắn, đảm bảo cây sắn tiếp tục giữ vững vị thế là cây trồng chiến lược trong bối cảnh hội nhập và biến đổi khí hậu.

Đột phá công nghệ chọn tạo giống

Trước yêu cầu đặt ra từ thực tiễn sản xuất, công tác nghiên cứu và chọn tạo giống sắn đang được triển khai mạnh mẽ theo hướng kết hợp giữa phương pháp truyền thống và công nghệ hiện đại. Hệ thống các viện thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam (VAAS) đã và đang thực hiện nhiều chương trình nghiên cứu chuyên sâu, tập trung vào mục tiêu tạo ra các giống sắn có khả năng kháng bệnh, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu và ổn định năng suất.

Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam khảo nghiệm giống sắn mới. Ảnh: Trần Trung.

Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam khảo nghiệm giống sắn mới. Ảnh: Trần Trung.

Trong đó, các công nghệ mới như chỉ thị phân tử, gây đột biến và lai tạo có định hướng đang được ứng dụng ngày càng rộng rãi. Những phương pháp này giúp nâng cao độ chính xác trong chọn lọc đặc tính di truyền, đồng thời rút ngắn đáng kể thời gian nghiên cứu so với phương pháp truyền thống.

Tại Viện Khoa học Kỹ thuật nông nghiệp miền Nam, nhiều giống sắn mới đã được lai tạo, khảo nghiệm và đưa vào sản xuất. Đây là những giống có khả năng chống chịu tốt với bệnh khảm lá, đồng thời thích nghi với nhiều vùng sinh thái trên cả nước. Quá trình chọn tạo không chỉ dừng ở phòng thí nghiệm mà còn được kiểm chứng tại các vùng sinh thái đặc thù như Lâm Đồng - nơi điều kiện tự nhiên giúp đánh giá chính xác hơn tính ổn định và khả năng thích nghi của giống trước khi phổ biến đại trà.

Theo TS Trương Vĩnh Hải, cùng với nỗ lực trong nước, hợp tác quốc tế đang trở thành trụ cột quan trọng nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu giống sắn. Nhiều tổ chức quốc tế như CIAT và ACIAR đã hỗ trợ Việt Nam kinh phí, công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực trong lĩnh vực chọn tạo giống cây trồng.

Hợp tác quốc tế giúp nhà khoa học tiếp cận nhanh công nghệ sinh học, mở rộng không gian nghiên cứu, phát triển giống sắn mới. Ảnh: Trần Trung.

Hợp tác quốc tế giúp nhà khoa học tiếp cận nhanh công nghệ sinh học, mở rộng không gian nghiên cứu, phát triển giống sắn mới. Ảnh: Trần Trung.

Sự hợp tác này không chỉ giúp các nhà khoa học trong nước tiếp cận nhanh hơn với những tiến bộ về công nghệ sinh học và công nghệ gen mà còn mở rộng không gian nghiên cứu, tạo điều kiện phát triển các chương trình chọn giống mang tính liên vùng và liên quốc gia. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để phát triển các giống sắn phù hợp với yêu cầu thị trường xuất khẩu cũng như từng bước phục hồi những giống đã bị thoái hóa, góp phần ổn định sản xuất lâu dài.

Hướng tới sản xuất sắn bền vững

Bên cạnh yếu tố giống, sản xuất sắn hiện nay đang chịu tác động từ biến đổi khí hậu, thời tiết cực đoan và những thay đổi trong tập quán canh tác. Việc sử dụng chưa hợp lý phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật ở một bộ phận nông dân không chỉ làm suy giảm độ phì của đất mà còn tạo điều kiện cho dịch hại phát sinh, lây lan nhanh và khó kiểm soát.

Trong bối cảnh đó, các nhà khoa học nhấn mạnh, cùng với giống, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là một giải pháp trọng tâm. Nếu không áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, ngành sắn sẽ tiếp tục đối mặt với vòng xoáy bất lợi: giống suy thoái kéo theo dịch hại gia tăng, từ đó làm giảm năng suất và tăng chi phí sản xuất.

Người trồng sắn Tây Ninh phấn khởi tiếp nhận giống sắn mới cùng phương pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp. Ảnh: Trần Trung.

Người trồng sắn Tây Ninh phấn khởi tiếp nhận giống sắn mới cùng phương pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp. Ảnh: Trần Trung.

Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải chuyển mạnh từ tư duy sản xuất đơn thuần sang canh tác bền vững, trong đó kỹ thuật, tổ chức sản xuất và nhận thức của người trồng sắn cần được nâng lên đồng bộ. Việc chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đẩy mạnh đào tạo nông dân và tăng cường liên kết giữa nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà quản lý và nông dân đang trở thành trụ cột trong tái cơ cấu ngành hàng sắn.

Trong giai đoạn phát triển mới, công tác giống không chỉ hướng đến mục tiêu năng suất mà còn phải tích hợp các tiêu chí về khả năng thích ứng, kháng bệnh và thân thiện với môi trường. Đây là yêu cầu bắt buộc nếu ngành sắn Việt Nam muốn giữ vững vị thế trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và tiêu chuẩn thị trường ngày càng khắt khe.

Từ góc độ chuỗi giá trị, giống là “điểm gốc” quyết định hiệu quả toàn ngành. Khi các giống sạch bệnh, ổn định và phù hợp với sinh thái được đưa vào sản xuất, sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực giúp giảm chi phí đầu vào, ổn định năng suất và nâng cao chất lượng nguyên liệu phục vụ chế biến và xuất khẩu.

Với sự đầu tư của các viện nghiên cứu, sự hỗ trợ từ hợp tác quốc tế, đặc biệt là vai trò chủ động của các vùng sản xuất trọng điểm như Tây Ninh, ngành sắn Việt Nam đang có cơ hội chuyển mình theo hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững hơn.

Trần Trung - Trần Phi