QUẢNG NINH - Đất trồng trọt đang chịu sức ép từ thâm canh, suy giảm dinh dưỡng và biến đổi khí hậu, buộc phải chuyển tư duy từ khai thác sang chăm sóc, phục hồi đất.
Đất không chỉ là nơi cây trồng bám rễ. Đó là một hệ sinh thái sống, nơi diễn ra quá trình cung cấp và chuyển hóa dinh dưỡng, giữ nước, lưu giữ chất hữu cơ và duy trì nhiều sinh vật có lợi cho cây trồng. Khi sức khỏe đất suy giảm, cây trồng là đối tượng chịu tác động đầu tiên, tiếp đến là năng suất, chất lượng nông sản, chi phí sản xuất và cuối cùng là hiệu quả kinh tế của nông dân.
Tại TP Quảng Ninh, câu chuyện này đang hiện hữu khá rõ trên những vùng sản xuất đã canh tác trong thời gian dài. Trong bối cảnh diện tích đất trồng trọt có xu hướng thu hẹp, việc duy trì sức sản xuất của đất không còn là lựa chọn mà trở thành yêu cầu cấp thiết đối với ngành nông nghiệp.

Diện tích trồng lúa trên địa bàn TP Quảng Ninh đạt trên 37.000 ha. Ảnh: Nguyễn Thành.
Khi đất bắt đầu “mệt”
Theo ông Trần Văn Thực, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật TP Quảng Ninh, tổng diện tích đất sản xuất trồng trọt trên địa bàn hiện khoảng trên 62.000 ha. Trong đó, đất lúa trên 37.000 ha, đất cây lâu năm khoảng 7.600 ha, còn lại là đất trồng cây hằng năm.
Đây là nguồn lực quan trọng để duy trì sản xuất nông nghiệp, nhưng chất lượng đất không phải lúc nào cũng tỷ lệ thuận với thời gian và cường độ khai thác.
Việc sử dụng đất trồng trọt trong nhiều năm nhưng chưa chú trọng đúng mức đến hoàn trả dinh dưỡng đã khiến một số diện tích xuất hiện tình trạng bạc màu, rửa trôi, suy kiệt. Khi đất không còn cung cấp đủ những yếu tố cần thiết, cây trồng khó phát huy hết tiềm năng năng suất.
Sức ép lên đất sản xuất không chỉ đến từ phương thức canh tác. Quá trình phát triển hạ tầng, đô thị và các ngành kinh tế khác cũng làm thay đổi quỹ đất nông nghiệp. Giai đoạn 2020 - 2025, diện tích đất sản xuất trồng trọt trên địa bàn TP Quảng Ninh giảm trên 4.600 ha, trong đó đất lúa giảm khoảng 2.911 ha.
Bài toán đặt ra cho ngành trồng trọt có hai chiều: một mặt phải bảo vệ phần diện tích đất còn lại, mặt khác phải nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm trên từng đơn vị diện tích. Trong điều kiện ấy, cách tiếp cận chỉ dựa vào việc tăng lượng phân bón để thúc cây phát triển ngày càng bộc lộ giới hạn.

Giai đoạn 2020 - 2025, diện tích đất sản xuất trồng trọt ở Quảng Ninh giảm trên 4.600 ha. Ảnh: Nguyễn Thành.
Chuyển tư duy cung cấp sang quản lý dinh dưỡng
Câu chuyện của bà Bùi Thị Khanh, một hộ trồng rau tại phường Đông Mai (TP Quảng Ninh) là ví dụ khá điển hình cho sự thay đổi nhận thức của người sản xuất.
Gia đình bà đã làm ruộng trong khoảng 20 - 30 năm, riêng cây rau vụ đông đã trồng khoảng 15 - 20 năm. Trong thời gian dài, phân bón vô cơ, phân hóa học được sử dụng khá phổ biến. Sau nhiều năm canh tác, bà nhận thấy đất trở nên cằn cỗi, cây khó phát triển, năng suất không tăng tương ứng với lượng phân bón đưa xuống ruộng.
Đây là nghịch lý không hiếm gặp trong sản xuất thâm canh, cây có thể được bón nhiều hơn nhưng đất lại không vì thế mà khỏe hơn. Khi chất dinh dưỡng được cung cấp mất cân đối, trong khi lượng hữu cơ trả lại cho đất thấp, kết cấu đất và khả năng giữ dinh dưỡng có thể bị ảnh hưởng. Cùng với đó, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu kiểm soát có thể tạo thêm áp lực lên hệ sinh thái đồng ruộng.
Bà Khanh cho biết sau khi được tập huấn, gia đình đã giảm phân bón hóa học, tăng sử dụng phân chuồng ủ hoai, phân trùn quế, phân vi sinh. Bà đồng thời hướng dẫn những hộ xung quanh tận dụng rơm rạ, lá cây để ủ thành phân hữu cơ. Theo bà, đất sau thời gian sử dụng nhiều phân hữu cơ đã trở nên tơi xốp hơn, cây sinh trưởng tốt hơn.
Nâng cao sức khỏe đất không đơn giản là thay phân vô cơ bằng phân hữu cơ. Điều quan trọng hơn là chuyển từ tư duy cung cấp dinh dưỡng theo thói quen sang quản lý dinh dưỡng dựa trên nhu cầu thực tế của đất và cây trồng.
Đây cũng là hướng tiếp cận được đặt ra trong Đề án “Nâng cao sức khỏe đất và quản lý dinh dưỡng cây trồng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050” được Bộ Nông nghiệp và PTNT phê duyệt năm 2024. Đề án hướng tới ổn định, nâng cao sức khỏe đất trồng trọt, hạn chế suy thoái đất, tăng giá trị gia tăng trên đơn vị diện tích và phát triển nông nghiệp xanh, bền vững, carbon thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu.

HTX Dịch vụ nông nghiệp chất lượng cao Hoa Phong ưu tiên sử dụng phân vi sinh, phân hữu cơ để cây trồng khỏe mạnh. Ảnh: Nguyễn Thành.
Điểm đáng chú ý là sức khỏe đất được đặt cùng với quản lý dinh dưỡng cây trồng. Nói cách khác, mục tiêu không phải bón thật nhiều phân cho cây mà là giúp cây nhận đúng và đủ những gì cần thiết trong một hệ thống đất có khả năng duy trì dinh dưỡng lâu dài.
Trả cho đất những gì đã lấy
Từ thực tế sản xuất, HTX Dịch vụ nông nghiệp chất lượng cao Hoa Phong (Đông Triều, TP Quảng Ninh) đang chọn cách tiếp cận khác. HTX hiện tổ chức sản xuất các loại rau, củ, quả và gạo, trong đó chuỗi rau ăn lá và chuỗi gạo nếp cái hoa vàng Đông Triều được liên kết với các hộ nông dân. Diện tích rau vào cao điểm vụ đông khoảng 40 ha, thời điểm bình thường khoảng 20 ha.
Theo bà Lê Thị Thà, Giám đốc Hợp tác xã, đơn vị ưu tiên sử dụng phân vi sinh, phân hữu cơ, hạn chế hóa chất và phân bón hóa học. Đất được cày ải, phơi và luân canh để giảm cỏ dại, hạn chế sâu bệnh cho vụ tiếp theo.
“Đất sau mỗi mùa vụ đã bị lấy đi một lượng đáng kể dinh dưỡng cùng sản phẩm thu hoạch. Nếu phụ phẩm không được hoàn trả hoặc nguồn hữu cơ không được bổ sung tương ứng, đất sẽ dần mất đi một phần khả năng duy trì độ phì”, bà Thà chia sẻ.
Vì thế, sử dụng phân hữu cơ, phân vi sinh, tận dụng rơm rạ, lá cây và phụ phẩm nông nghiệp để ủ, luân canh cây trồng, vệ sinh đồng ruộng, hạn chế đốt phụ phẩm... đều có ý nghĩa trong quá trình phục hồi hệ sinh thái đất.

Tổng sản lượng lương thực có hạt của Quảng Ninh trong 8 tháng đầu năm 2026 đạt 102.000 tấn. Ảnh: Nguyễn Thành.
Ông Trần Văn Thực cho biết, ngành chuyên môn TP Quảng Ninh đã tham mưu triển khai các chương trình quản lý dịch hại tổng hợp, nâng cao sức khỏe đất, tăng sử dụng phân hữu cơ, giảm phân vô cơ, đồng thời xây dựng các mô hình sản xuất theo hướng VietGAP, hữu cơ và hướng dẫn người sản xuất quản lý dinh dưỡng, dịch hại. Đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu tái cơ cấu sản xuất trong bối cảnh quỹ đất nông nghiệp không còn dư dả.
Thực tế cho thấy phục hồi đất không thể làm trong một vụ sản xuất. Đó là quá trình dài, đòi hỏi sự thay đổi từ nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp đến cơ quan quản lý.
Trong một nền nông nghiệp phải thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm chi phí đầu vào và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường, bảo vệ đất cũng chính là bảo vệ năng lực sản xuất lâu dài.
Nguyễn Thành