THÁI NGUYÊN - Từ thay đổi cách chăm đất, người trồng chè Vô Tranh (Thái Nguyên) hướng đến sản xuất an toàn, chuẩn hóa sản phẩm.
Hồi sinh đất
Buổi sáng ở Phú Nam 1, xã Vô Tranh (tỉnh Thái Nguyên), những nương chè trải dài dọc các ngõ xóm. Chọn từng búp non vừa độ, bàn tay bà Nguyễn Thị Hoàng thoăn thoắt hái. Ở tuổi ngoài 70, bà Hoàng trở thành Giám đốc HTX Nông nghiệp - Thương mại - Dịch vụ Saemaul Phú Nam 1 (HTX Phú Nam 1).

Bà Nguyễn Thị Hoàng, Giám đốc HTX Phú Nam 1. Ảnh: Đức Bình.
Bà Hoàng kể, cái tên Saemaul của HTX bắt nguồn từ câu chuyện cách đây hơn 20 năm. Năm 2004, trên nền tảng quan hệ hữu nghị Việt Nam - Hàn Quốc, tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Gyeongsangbuk chính thức kết nghĩa. Một năm sau, dự án xây dựng làng mới theo phong trào Saemaul Undong được triển khai tại Thái Nguyên với những công trình như nhà văn hóa, trạm xá, trường học cùng vật tư, thiết bị hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, góp phần tạo thay đổi ở nhiều vùng nông thôn.
Từ câu chuyện ấy, HTX Phú Nam 1 chọn hướng sản xuất chè an toàn, từng bước xây dựng thị trường cho sản phẩm. HTX đứng vững và mở rộng thị trường bằng nguyên tắc sản xuất chè an toàn theo quy trình VietGAP. Sản phẩm được đưa đến một số hội chợ lớn ở Hà Nội và Trung Quốc để quảng bá.
Cách nhìn về cây chè của người dân cũng dần thay đổi. Sản xuất chè không còn là câu chuyện chỉ bón đủ phân, phun thuốc phòng liên tục để cây sinh trưởng mà hướng đến việc bảo vệ môi trường sống của cây chè, từ đó nâng chất lượng sản phẩm.
Người dân trong vùng từng bước chuyển từ phương thức canh tác truyền thống sang hướng hữu cơ, hạn chế sử dụng thuốc hóa học, không dùng thuốc diệt cỏ, tăng cường phân hữu cơ và chăm sóc theo quy trình. Vật tư sử dụng, thời gian chăm sóc, thời điểm thu hái đều được ghi chép để kiểm soát chất lượng sản phẩm.
Sự thay đổi ấy có thể cảm nhận ngay dưới lớp đất của nương chè. Sau thời gian dài sử dụng thuốc diệt cỏ và phân hóa học, một số diện tích từng trở nên chai cứng, khó canh tác. Khi phương thức sản xuất được điều chỉnh, đất dần tơi xốp hơn, hệ vi sinh vật phát triển trở lại, giun đất bắt đầu xuất hiện.

Đất trên nương chè giờ đã xuất hiện giun. Ảnh: Quang Linh.
Thay đổi rõ nhất nằm ở cách bón phân. “Chúng tôi cuốc rạch giữa các hàng chè rồi vùi phân xuống đất để hạn chế thất thoát, đưa dinh dưỡng đến gần vùng rễ giúp cây hấp thụ hiệu quả hơn, trung bình mỗi năm thực hiện khoảng ba lần”, bà Hoàng giới thiệu.
Các hộ còn phối trộn thêm phân chuồng ủ hoai để bổ sung dinh dưỡng cho đất. Với một hecta chè, mỗi lần bón có thể sử dụng khoảng 1 tấn phân hữu cơ, mất 3 công cuốc rạch (bình quân khoảng 400.000 đồng/công). Phân chuồng ủ mục được mua với giá khoảng 17.000 đồng/bao (20kg).
Ông Tạ Văn Trường, xóm Phú Quý, xã Vô Tranh chia sẻ: "Cây chè được bón phân hữu cơ chất lượng ngon hơn. Trước kia canh tác sử dụng phân hóa học chất lượng chè không bằng bây giờ. Gia đình tôi có hơn 1ha, chỉ chuyên phục vụ loại chè 1 tôm 2 lá".
Điều ông Trường và người dân xóm Phú Quý mừng hơn là những nương chè được chăm sóc theo hướng an toàn hơn, đất từng bước được cải tạo, cây phát triển ổn định, môi trường không khí, nước đều giảm chất độc hại.
Chuẩn hóa sản phẩm chè
HTX Phú Nam 1 được thành lập năm 2017 với 10 thành viên. Sau gần một thập kỷ hoạt động, HTX hiện có 14 thành viên chính thức, đồng thời liên kết với các hộ dân trong vùng để tạo nguồn nguyên liệu, từng bước đưa những nương chè nhỏ lẻ vào chuỗi sản xuất, từ chăm sóc, thu hái đến chế biến, tiêu thụ.

HTX Phú Nam 1 có 15ha chè đã được cấp chứng nhận VietGAP. Ảnh: Quang Linh.
Hiện HTX có tổng diện tích chè hơn 27ha, trong đó 15ha đã được chứng nhận VietGAP và hơn 12ha được cấp mã số vùng trồng. Đây là cơ sở để HTX kiểm soát nguồn nguyên liệu trước khi đưa vào chế biến, đồng thời hướng người dân sản xuất theo những yêu cầu thống nhất về chất lượng.
Chè tươi của các thành viên sau khi thu hái được HTX thu mua, đưa về chế biến tại ba khu chế biến chính. Cùng với thu mua chè tươi, HTX hỗ trợ các hộ kỹ thuật, vật tư, bao bì, truy xuất nguồn gốc, quảng bá, tiêu thụ sản phẩm.
Đến nay, HTX có hai sản phẩm OCOP, gồm chè tôm nõn đặc biệt đạt OCOP 4 sao cùng hồng trà đạt OCOP 3 sao, ngoài ra còn có chè móc câu và các dòng chè xanh khác.
Khi sản phẩm được phân loại, chế biến và xây dựng thương hiệu, giá trị chè cũng có sự khác biệt. Chè tươi thông thường được thu mua khoảng 30.000 đồng/kg, trong khi chè đặc sản có thể đạt khoảng 50.000 đồng/kg. Khoảng cách về giá ấy được tạo nên nhờ nhiều yếu tố, từ giống, quy trình chăm sóc, chất lượng nguyên liệu đến kỹ thuật chế biến và cách đưa sản phẩm ra thị trường. Năm qua, doanh thu của HTX đạt gần 2 tỷ đồng từ các sản phẩm chè.
Định hình hướng đi mới
Xã Vô Tranh đang định hình hướng đi mới cho cây chè, gắn sản xuất với khoa học công nghệ, canh tác hữu cơ, chuyển đổi số, bảo tồn giống chè cổ và phát triển giá trị văn hóa.
Theo ông Bùi Phương Thảo, Phó Chủ tịch UBND xã Vô Tranh, địa phương hiện có khoảng 2.600ha chè, trong đó hơn 800ha được cấp chứng nhận VietGAP và hơn 200ha được cấp chỉ dẫn địa lý. Riêng vùng chè Khe Cốc khoảng 300ha đang được tập trung phát triển theo hướng hữu cơ, từng bước nâng chất lượng và giá trị sản phẩm.

Các diện tích chè tại Vô Tranh đa số sử dụng hệ thống tưới tự động. Ảnh: Quang Linh.
Vô Tranh xác định khoa học công nghệ là công cụ để nâng chất lượng cây chè, song quá trình đổi mới vẫn phải giữ được những giá trị đã tạo nên bản sắc của vùng đất. Những cây chè cổ, giống chè hạt được địa phương tiếp tục bảo tồn bởi đây là nguồn gen tạo nên hương vị đậm đặc trưng của chè Vô Tranh, được xem như phần gốc của vùng chè trước khi các phương thức sản xuất hiện đại được đưa vào.
Trên nền tảng đó, địa phương phối hợp với các sở, ngành triển khai chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, đồng thời phối hợp với VNPT thực hiện mô hình VNPT Green, đưa dữ liệu sản xuất lên hệ thống điện tử thay cho ghi chép thủ công. Việc quản lý bằng dữ liệu giúp quá trình sản xuất rõ ràng hơn, tạo thuận lợi kiểm soát vật tư, truy xuất nguồn gốc và xây dựng niềm tin cho sản phẩm.
Cùng với chuyển đổi số, xã đang hướng người dân tới phương thức sản xuất sử dụng nhiều hơn nguồn nguyên liệu hữu cơ tại chỗ để cải tạo đất. Cán bộ chuyên trách nông nghiệp và cán bộ khuyến nông của xã được phân công xuống cơ sở hướng dẫn người dân thực hiện quy trình sản xuất phân hữu cơ để sử dụng cho cây chè. Ban đầu, một số hộ còn lo ngại việc giảm phân vô cơ sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây, nhưng sau khoảng hai đến ba tháng áp dụng, cây chè phát triển tốt, mô hình dần được nhân rộng.
Hướng sản xuất này giúp hình thành chu trình nông nghiệp phù hợp với điều kiện địa phương, tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có, giảm áp lực từ phân bón hóa học và từng bước cải tạo đất, tạo nền tảng cho vùng chè phát triển lâu dài.
Xã Vô Tranh đang đưa cây chè vào các hoạt động văn hóa và quảng bá địa phương. Hưởng ứng Festival Trà quốc tế - Thái Nguyên 2026, xã đã tổ chức hoạt động xếp mô hình ấm chè trên nương chè đồi Bát Úc với đông đảo người dân tham gia và trình diễn điệu múa Tắc Xình - di sản văn hóa phi vật thể quốc gia với hơn 1.000 người đội nón tham gia, tạo hình bông hoa chè và vòng tròn đồng tâm đoàn kết.
Những tháng cuối năm, xã tiếp tục tổ chức các hoạt động quảng bá tại HTX chè Khe Cốc, mời KOL, KOC tham gia giới thiệu sản phẩm, đồng thời xây dựng không gian sự kiện với khoảng 10 gian hàng, khu trưng bày sản phẩm chè, hoạt động thi hái chè, thi sao chè cùng các chương trình văn hóa, thể thao và văn nghệ.
Đức Bình - Quang Linh