Tỉnh Đắk Lắk đặt mục tiêu tái canh trên 17.000 ha cà phê trong giai đoạn 2026-2030 nhằm nâng cao năng suất, gia tăng giá trị, góp phần phát triển bền vững.
Chương trình tái canh cà phê của tỉnh Đắk Lắk không chỉ hướng đến cải tạo các vườn cây năng suất thấp mà còn xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh ứng dụng công nghệ cao, phát triển cà phê đặc sản, cà phê hữu cơ và các sản phẩm đạt chứng nhận quốc tế, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường xuất khẩu.
Tăng thu nhập 1,5 - 2 lần
Đắk Lắk là một trong những địa phương có diện tích cà phê lớn nhất cả nước với hơn 217.654 ha, trong đó diện tích cho thu hoạch đạt gần 203.000 ha, sản lượng hơn 580.800 tấn. Trước sáp nhập, tỉnh Đắk Lắk đứng đầu cả nước về diện tích trồng cà phê.
Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, cây cà phê không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế - xã hội mà còn có ý nghĩa to lớn về văn hóa, du lịch của tỉnh. Quá trình phát triển ngành hàng cà phê kết hợp với phát triển du lịch sinh thái và quảng bá văn hóa bản địa, tỉnh Đắk Lắk đã thu hút ngày càng nhiều du khách đến tham quan, trải nghiệm.
Tuy nhiên, sau nhiều năm khai thác, không ít diện tích cà phê của tỉnh đã bước vào giai đoạn già cỗi, năng suất giảm, sâu bệnh gia tăng, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất cũng như khả năng cạnh tranh của ngành hàng.

Hiện tỉnh Đắk Lắk có hơn 217.654 ha cà phê, tập trung ở các xã, phường phía tây của tỉnh. Ảnh: Trần Thọ.
Trước tình hình đó, tỉnh Đắk Lắk chủ trương tái canh cây cà phê nhằm xây dựng ngành cà phê của tỉnh phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao, hình thành các vùng cà phê chuyên canh để sản xuất cà phê đặc sản, cà phê hữu cơ và cà phê có chứng nhận phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cà phê ngày càng tăng ở các thị trường xuất khẩu và nội địa.
Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh Đắk Lắk sẽ thực hiện tái canh khoảng 17.046 ha cà phê trên tổng diện tích hơn 217.654 ha hiện có tại các xã phía tây của tỉnh. Trong đó, trên 90% diện tích tái canh sẽ sử dụng giống mới, góp phần nâng cao chất lượng vườn cây ngay từ đầu chu kỳ sản xuất.
Lộ trình tái canh cà phê được xây dựng theo từng năm nhằm bảo đảm tính khả thi. Cụ thể, năm 2026 thực hiện 3.698 ha, năm 2027 là 3.240 ha, năm 2028 đạt 3.292 ha, năm 2029 khoảng 3.326 ha và năm 2030 thực hiện 3.490 ha. Chương trình sẽ được triển khai tại 54 xã, phường trên địa bàn tỉnh trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp của từng địa phương.
Không chỉ dừng lại ở việc thay thế những diện tích già cỗi, tỉnh Đắk Lắk còn đặt ra những chỉ tiêu cụ thể về hiệu quả sau tái canh. Theo đó, khi bước vào thời kỳ kinh doanh ổn định, năng suất bình quân của các vườn tái canh phấn đấu đạt khoảng 3 tấn cà phê nhân/ha, thu nhập của người trồng dự kiến tăng từ 1,5 đến 2 lần so với trước khi tái canh. Đây là những mục tiêu quan trọng nhằm nâng cao đời sống nông dân, đồng thời gia tăng sức cạnh tranh của cà phê Đắk Lắk trên thị trường trong nước và quốc tế.
Đồng bộ giải pháp
Để hoàn thành mục tiêu tái canh 17.046 ha cà phê trong giai đoạn 2026-2030, UBND tỉnh Đắk Lắk xác định cần phải triển khai đồng bộ nhiều nhóm giải pháp, từ phát triển nguồn giống, ứng dụng khoa học kỹ thuật đến cơ chế hỗ trợ sản xuất và huy động nguồn lực đầu tư. Đây được xem là nền tảng quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả tái canh, xây dựng vùng nguyên liệu chất lượng cao và phát triển ngành cà phê theo hướng hiện đại, bền vững.

Chương trình tái canh cà phê của tỉnh Đắk Lắk được kỳ vọng giúp tăng thu nhập của người trồng từ 1,5 đến 2 lần. Ảnh: Tuấn Trần.
Trong đó, phát triển giống được coi là khâu then chốt quyết định chất lượng vườn cây sau tái canh. Tỉnh Đắk Lắk sẽ tiếp tục đầu tư nâng cao năng lực hệ thống sản xuất giống, xây dựng và quản lý chặt chẽ các vườn cây đầu dòng, vườn nhân giống, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu tham gia chọn tạo, sản xuất các giống cà phê có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu sâu bệnh và thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu.
Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, thời gian tới tỉnh sẽ hoàn thiện hệ thống sản xuất và cung ứng giống từ tỉnh đến cơ sở. Trong đó tập trung nhân, chuyển giao nhanh các giống cà phê vối năng suất, chất lượng cao như TRS1, TR4, TR9, cà phê dây… nhằm đảm bảo nguồn giống chất lượng cao phục vụ chương trình tái canh, ghép cải tạo.
Cùng với giải pháp về giống là việc đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến người sản xuất. Theo kế hoạch, các địa phương trong tỉnh sẽ tăng cường hướng dẫn nông dân thực hiện đúng quy trình tái canh từ khâu xử lý đất, luân canh cây trồng, cải tạo độ phì nhiêu của đất, sử dụng phân hữu cơ và chế phẩm sinh học đến trồng cây che bóng, tưới nước tiết kiệm, quản lý dịch hại tổng hợp và chăm sóc vườn cây trong giai đoạn kiến thiết cơ bản.
UBND tỉnh Đắk Lắk cho biết, việc áp dụng đồng bộ các quy trình kỹ thuật không chỉ nâng cao tỷ lệ thành công của tái canh mà còn kéo dài tuổi thọ vườn cây, giảm chi phí sản xuất và tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng cà phê.
Bên cạnh yếu tố kỹ thuật, tỉnh Đắk Lắk cũng chú trọng tạo điều kiện để người dân và doanh nghiệp tiếp cận các nguồn lực phục vụ tái canh. Theo đó, tỉnh sẽ tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, đồng thời lồng ghép nhiều nguồn vốn từ ngân sách, các chương trình mục tiêu và các chính sách hỗ trợ hiện hành để khuyến khích người dân mạnh dạn đầu tư cải tạo vườn cây.

Sau nhiều năm khai thác, không ít diện tích cà phê của tỉnh Đắk Lắk đã bước vào giai đoạn già cỗi, năng suất giảm, sâu bệnh gia tăng. Ảnh: Trần Thọ.
Cùng với đó, thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, từng bước hình thành chuỗi giá trị cà phê bền vững, nâng cao giá trị gia tăng cho ngành hàng chủ lực của địa phương.
Về định hướng tái canh, tỉnh Đắk Lắk xác định phát triển cà phê theo mô hình xanh và thích ứng với xu thế thị trường. Theo định hướng này, Đắk Lắk sẽ khuyến khích xây dựng các mô hình tái canh gắn với sản xuất hữu cơ, giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên đất và nước, đồng thời đẩy mạnh phát triển cà phê đặc sản, cà phê đạt các chứng nhận bền vững quốc tế.
Theo UBND tỉnh Đắk Lắk, đây không chỉ là giải pháp nâng cao chất lượng vùng nguyên liệu mà còn giúp ngành cà phê của tỉnh đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, sản xuất có trách nhiệm và tiêu chuẩn môi trường của các thị trường xuất khẩu.
Trần Thọ